Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước

Theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 3 khóa XI, nhiệm vụ đặt ra đối với DNNN là cần tiến hành tái cơ cấu trong đó trọng tâm là TĐKT và TCT nhà nước. Trong tổng thể cần thiết xác định rõ ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh có sự hiện diện của doanh nghiệp nhà nước. Tiếp đó cần tái cơ cấu lại DNNN ngay trong chính bản thân mỗi doanh nghiệp.

Trong suốt hơn 20 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đảng đã có nhiều Nghị quyết đề cập đến nội dung này. Chính phủ đã nghiêm túc tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng, đạt nhiều kết quả tích cực.

Có 4 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước. Sau 10 năm sắp xếp, số lượng các ngành, lĩnh vực cần duy trì sở hữu nhà nước đã thu hẹp dần; loại DN mà Nhà nước duy trì sở hữu và có sự quan tâm quản lý, giám sát đã thu gọn lại. Theo đó, đã sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước [1], số lượng DNNN 100% vốn nhà nước giảm, giảm dần mức độ sở hữu nhà nước trong từng doanh nghiệp nhà nước và thu hẹp ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hóa là khâu quan trọng trong sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước [2]. Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước nhìn chung đã được đổi mới. Thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đạt một số kết quả bước đầu. Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế, ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; ở một số lĩnh vực như dầu khí, viễn thông, giao thông, xây dựng, hóa chất, cao su, nâng cao năng suất cây trồng DNNN đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và đưa công nghệ mới vào phát triển sản xuất kinh doanh ở, là đối tác trong hầu hết các dự án liên doanh ở trong nước và đầu tư ra nước ngoài; tham gia cung ứng một phần sản phẩm, dịch vụ bảo đảm nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và thực hiện chính sách an sinh xã hội; cung cấp các dịch vụ công ích, bảo đảm quốc phòng an ninh, chủ quyền quốc gia...

Tuy nhiên, việc sắp xếp, cơ cấu lại và đổi mới doanh nghiệp nhà nước vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Doanh nghiệp nhà nước vẫn dàn trải trong nhiều ngành, lĩnh vực; quy mô vẫn nhỏ. Mô hình tổ chức quản lý các tập đoàn, tổng công ty còn nhiều hạn chế. Một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hình thành nhiều công ty con, công ty cháu, phát sinh thêm tầng nấc quản lý, đầu tư chồng chéo, khó kiểm soát. Quản trị nội bộ còn nhiều bất cập, yếu kém. Hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; năng lực cạnh tranh còn thấp [3]. Hiệu quả kinh tế, xã hội của doanh nghiệp nhà nước chưa được đánh giá đầy đủ. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu nhà nước còn sơ hở, lúng túng.[4]

Cơ cấu ngành, lĩnh vực hoạt động của DNNN từ chỗ các ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 100% vốn nhà nước bao trùm hầu hết nền kinh tế, đến nay số ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã thu hẹp xuống dưới một nửa. Nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhà nước ở 20 ngành, lĩnh vực [5] nhưng vẫn đang vượt quá giới hạn quy định cho ngành, lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ (kể cả 100% vốn điều lệ và chi phối vốn). Đồng thời, việc quy định ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là chưa phù hợp với doanh nghiệp nhà nước.

Cơ cấu vốn, quy mô và hiệu quả hoạt động của DNNN đến cuối năm 2010, tổng vốn chủ sở hữu của các DNNN là trên 700 nghìn tỉ đồng, trong đó của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 653 nghìn tỉ đồng. Riêng 21 tập đoàn, TCT hạng đặc biệt đã chiếm hơn 87% vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, TCT nhà nước và đã tăng gấp 2,1 lần so với năm năm trước đó. Đa số DNNN có quy mô vừa và lớn, nhưng vẫn còn 102 doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỉ đồng, 08 doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỉ đồng.

Hiện có gần 80% DNNN có quy mô vừa và lớn theo tiêu chí nguồn vốn và 60% theo tiêu chí lao động. Đa số các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là những doanh nghiệp lớn nhất về doanh thu, lợi nhuận, lao động, tốc độ tăng trưởng, tổng giá trị tài sản. Các DNNN hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, khai thác mỏ và tài chính, tín dụng đang nắm giữ khoảng 80% tổng nguồn vốn của khu vực DNNN.

Cơ cấu sở hữu: Số DNNN 100% vốn nhà nước phân theo sở hữu (bảng trong báo cáo đầy đủ); 22 công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đặc biệt quan trọng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và trên 70 công ty mẹ của các tổng công ty thuộc các bộ, UBND các tỉnh, thành phố.

Quan điểm cơ cấu lại DNNN là (1) nhằm nâng cao hiệu quả của chúng và đảm bảo KTNN là chủ đạo trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; thúc đẩy đổi mới DNNN đi vào chiều sâu, thực chất hơn; thông qua đó hỗ trợ tái cơ cấu đầu tư và tái cơ cấu thị trường tài chính, góp phần đẩy nhanh tái cơ cấu nền kinh tế nói chung gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. (2) cần thực hiện cả phạm vi vĩ mô và vi mô: + tầm vĩ mô cơ cấu lại DNNN chỉ tập trung vào những ngành, lĩnh vực cần thiết và duy trì, phát triển những DNNN thật sự có vai trò, có tác dụng đối với nền kinh tế; + tầm vi mô, nhất là DNNN, TĐKT, TCT 100% vốn nhà nước thì cơ cấu lại trên cơ sở một chiến lược kinh doanh rõ ràng, danh mục đầu tư, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, tái cơ cấu các nguồn lực (đặc biệt là nhân lực); đổi mới công nghệ; đổi mới quản trị doanh nghiệp, công khai, minh bạch ...(3) đổi mới DNNN theo chiều sâu: kết hợp sử dụng quyền lực của chủ sở hữu một cách đúng đắn, hợp lý và thị trường là động lực để DNNN nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động, tạo sức ép đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp phải đổi mới.

Định hướng cơ cấu lại DNNN là (1) theo hướng thu hẹp ngành, lĩnh vực kinh doanh, thu hẹp số lượng các DNNN không cần thiết nắm giữ; tập trung vào một số ngành, lĩnh vực bảo đảm lợi ích kinh tế quốc gia; an ninh kinh tế; quốc phòng an ninh; dịch vụ công ích; kết cấu hạ tầng; tạo nền tảng cho phát biển công nghiệp với công nghệ cao, tạo nền tảng để hội nhập và cạnh tranh quốc tế. (2) điều chỉnh lại cơ cấu sở hữu nhà nước (tăng, giảm) trong các ngành, lĩnh vực; trong từng DNNN. Qua đó phân bổ lại nguồn lực (kể cả ngân sách nhà nước, các quỹ, đất đai, tài nguyên…) giữa các DNNN; giữa khu vực KTNN và các khu vực kinh tế khác; điều chỉnh tỷ lệ sở hữu nhà nước tại những DNNN nắm giữ vị trí tác động đến việc bảo đảm vai trò chủ đạo của KTNN. (3) tập trung nỗ lực vào tái cơ cấu các TĐKT và TCT nhà nước. Kiểm soát việc thành lập mới các DNNN, trong tương lai; giám sát đề án sau chuyển đổi, thành lập. (4) Tái cấu trúc nợ của các DNNN, đặc biệt là các TĐKTNN, TCTNN. (5) Tái cơ cấu quản trị DNNN. (6) Tái cơ cấu các cơ quan đại diện chủ sở hữu, tách chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng QLNN tại các cơ quan nhà nước; đẩy mạnh thực hiện và tăng cường kiểm soát chức năng chủ sở hữu nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của chủ sở hệ nhà nước và thúc đẩy cải cách hành chính. Đổi mới cơ chế quản lý, giám sát của Nhà nước đối với DNNN và phần vốn nhà nước đầu tư ở các DN.

Về phân loại nhóm DNNN theo mức độ sở hữu đã có quyết định của CP

Để thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ tái cơ cấu DNNN đạt yêu cầu, thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng đổi mới mô hình tăng trưởng. Cần thiết nhấn mạnh đến các giải pháp sau:

1. Về phía cơ quan quản lý nhà nước:(1) Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện khung pháp luật; (2) xác định số lượng DNNN cần thiết ở mỗi nhóm ngành nghề và có danh sách cụ thể các doanh nghiệp Nhà nước sở hữu mức vốn khác nhau, phê duyệt phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục rà soát để đẩy mạnh cổ phần hóa. (3) Hoàn thiện tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp theo hướng đẩy mạnh đa dạng hóa sở hữu.

2. Về phía các DNNN, TĐKT và TCT nhà nước (1) tái cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, tập trung vào ngành chính; cắt giảm số lượng thành viên và số tầng, cấp DN; tái cơ cấu đầu tư, tài chính; (2) giám sát, thực hiện chức năng chủ sở hữu vốn đối với công ty con, công ty liên kết; đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với TĐKT, TCT; chú trọng giám sát cả các DN thành viên.(3) Hoàn thiện thể chế quản trị doanh nghiệp.

Một số biện pháp

- Rà soát, xác định lại nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính, tập trung vào những ngành chính và những ngành liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính.

- Xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020 phù hợp chiến lược phát triển ngành, nhu cầu của thị trường, khả năng về vốn và năng lực trình độ quản lý.

- Xây dựng phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, triển khai tái cơ cấu các doanh nghiệp thành viên để thực hiện chuyên môn hóa, phân công, hợp tác, không dàn trải, phân tán nguồn lực, tránh cạnh tranh nội bộ theo hướng sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp thành viên kinh doanh cùng ngành nghề.

- Xây dựng phương án tài chính để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính được giao và xử lý các tồn tại về tài chính trong quá trình tái cơ cấu.

Công ty mẹ - tập đoàn/tổng công ty nhà nước phải tổ chức giám sát, kiểm tra thường xuyên, thanh tra định kỳ việc chấp hành pháp luật, thực hiện mục tiêu, chiến lược, kế hoạch và nhiệm vụ được giao, đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty con, cán bộ quản lý kịp thời chấn chỉnh sai phạm.

Kiện toàn bộ máy quản lý, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu quản trị trong cơ chế thị trường. Sắp xếp lại, nâng cao chất lượng lao động trong doanh nghiệp; trọng tâm là công nhân kỹ thuật với số lượng hợp lý, cơ cấu ngành nghề và bậc thợ tối ưu đối với từng công nghệ, dây chuyền, công đoạn, công việc, trên cơ sở đó nâng cao năng suất của từng người lao động và năng suất lao động tổng hợp của doanh nghiệp.



[1] sắp xếp được 5.374 doanh nghiệp, còn 1.060 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng giảm từ 59% năm 2001 xuống còn 9,3% năm 2011. Doanh nghiệp nhà nước đến nay tập trung vào 19 ngành, lĩnh vực.

[2] đến nay, đã cổ phần hóa được 3.976 doanh nghiệp. Nhà nước giữ cổ phần chi phối ở 1.217 doanh nghiệp; giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê 354 doanh nghiệp; giải thể, phá sản 276 doanh nghiệp. Trong quá trình sắp xếp, đã giải quyết chế độ cho trên 25 vạn lao động dôi dư với tổng số tiền là 8.743 tỷ đồng, tạo điều kiện cho người lao động tìm việc làm mới, góp phần ổn định xã hội.

[3] Năm 2011, chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của 21 tập đoàn và tổng công ty hạng đặc biệt tạm tính là tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với tổng tài sản là 5,8%, so với doanh thu là 8,9%, so với vốn chủ sở hữu là 17,6%. Các tập đoàn và tổng công ty này có số nợ phải thu hơn 54 ngàn tỷ đồng, nợ phải trả hơn 1.128 ngàn tỷ đồng, trong đó nợ ngân sách nhà nước gần 2.500 tỷ đồng. Mức lỗ bình quân của các tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước cao gấp 12 lần các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tổng lỗ lũy kế của các tập đoàn, tổng công ty đến hết năm 2011 là 26.100 tỷ đồng.

 [4] Việc xác định rõ đại diện chủ sở hữu nhà nước và tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ chủ sở hữu đối với tập đoàn kinh tế, tổng công ty 91, chưa hợp lý, còn chồng chéo về trách nhiệm giữa các cơ quan. Chưa có cơ chế, chế tài và công cụ kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả trong khi trao mạnh quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp nhà nước.

[5] DN100% vốn nhà nước hoạt động trong lĩnh vực “dịch vụ môi trường đô thị và cấp thoát nước”: 150; lĩnh vực “Xổ số kiến thiết và xuất bản, in ấn”: 102 và là lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước; xổ số kiến thiết thuộc 63 tỉnh, thành phố: 63 DN, và 39 nhà xuất bản, nhà in; lĩnh vực quốc phòng, an ninh: 150; lĩnh vực “Thuỷ nông, thuỷ lợi”: 92; lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp: 129; nông trường quốc doanh, công ty nông nghiệp: 120; ngành thương mại, dịch vụ và khác: 200; tài chính, ngân hang: 18; lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải: 498 DN.

TS. Trần Thị Thanh Hồng, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế, VPTW

Ảnh: nguồn Internet